GIỚI THIỆU THÊM

  
 
 

THỜI KỲ BẮC THUỘC

Nhà Ngô Chia Đất Giao Châu

Email In PDF.

 
Nhà Ngô Chia Đất Giao Châu

 

Giáp Thân (264), năm ấy vừa trôi.

Giao Châu, Ngô lấy chia đôi. Vậy là:

Nam Việt nước của Triệu Đà

Đến đây chính thức chia ra hai phần!

 

Nam Hải, Thương Ngô Uất Lâm.

Là Quảng Châu. Còn lại phần phía Nam

Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.

Thêm Hợp Phố, gộp lại làm Giao Châu

 

Chổ này dễ lộn đuôi đầu.

Nhớ là Sử Việt, Giao Châu đi  liền!

Giao Châu phủ, giờ Long Biên

Trước kia phủ trị ở miền Mê Linh.

 

Trị loạn bên Tàu

Email In PDF.

 

Trị loạn bên Tàu

 

 

Bên Tàu, thay chủ triều đình.

Hết thời Tam Quốc, Tấn bình định ngay.

Toàn Trung Quốc, Tấn trị cai

Sau nửa thế kỉ, bên ngoài rối ren.

 

Phía Tây Tấn mất cả miền.

Nên gọi Đông Tấn, cớ duyên tình đầu !

Đông Tấn vẫn  trị Giao Châu.

Canh Thân (420) vừa tới, nước Tàu chia đôi.

 

Lúc này Đông Tấn mất ngôi,

Nhà Tống cướp được rồi bình phía Nam.

Bắc thì Ngụy, nửa giang sang.

Nam Bắc Triều, chia rõ ràng từ đây.

 

Giao Châu thuộc Tống lúc này.

Tống khi bị diệt, lên thay là Tề.

Sau đó Lương lại diệt Tề.

Giao Châu giờ lại thuộc về nhà Lương.

 

Kiếp người Việt lại thêm thương.

Nhà Lương quan lại bất lương vô cùng.

Ở đất Giao Châu, nói chung

Dân ta khốn khó tột cùng, tội thay!

 

Còn lũ quan lại, lúc này.

Cứ lo vơ vét ra tay ác tàn.

Như Tiêu Tư, hắn là quan.

Quyền thứ sử, nhưng bạo tàn một tay.

 

Dân nghèo, phải kiếp đọa đày.

Thật  may lúc ấy, bên đây nước nhà.

 

Lý Nam Đế

Email In PDF.

 

Lý Nam Đế

 

Lý Bôn, đúng thật tài ba.

Thái Bình nguyên quán, sử đà có biên.

Năm Tân Dậu (541) tới, nhớ liền

Lý Bôn kêu gọi khắp miền nổi lên.

 

Tiêu Tư ỷ thế bề trên.

Đem quân đánh dẹp, hai bên đối đầu.

Khác gì lửa đổ thêm dầu.

Quân ta khi đó dẫn đầu: Lý Bôn.

 

Bao nhiêu uất ức nén dồn.

Hằng  lên mũi giáo, kinh hồn ta băng.

Rồi nhằm vào địch chém phăng.

Tiu Tư phút chốc mười phần nguy nan.

 

Nhất phát thiên quân rõ ràng.

Y quay đầu chạy chả màng quân gia.

Đuổi Tiêu Tư khỏi nước ta.

Chiếm Long Biên phủ, nước nhà tạm yên.

 

Hai năm sau lại chẳng yên

Do nước Lâm Ấp đánh miền phía nam.

Lý Bôn hội tất cả, bàn.

Phạm Tu được lệnh đánh tan nghịch thù.

 

Thế là theo lệnh Phạm Tu.

Quân ta quyết định chống thù.  Đi ngay !

Tới đất Cửu Đức thời này.

Thuộc vùng Thanh Hóa,  đối ngay trọng thù.

 

Đất nam bờ cõi phải thu

Đánh tan Lâm Ấp, Phạm Tu khải hoàn!

Đến năm Giáp Tí (544)  vừa sang.

Lý Bôn xưng đế, đường hoàng lên ngai.

 

Tức Lý Nam Đế. Xong ngài.

Đặt quốc hiệu nước ta ngay, đó là:

Vạn Xuân. Niên hiệu đặt ra :

Nhớ là Thiên Đức, ngài đà sắc phong.

 

Thái phó, chức ấy ban ông:

Là Triệu Túc. Văn tướng phong người này:

Tinh Thiều. Võ tướng phong tay:

Phạm Tu.  Tất cả chia hai đứng chầu

 

Vạn Xuân bình chẳng bao lâu.

Vua Lương, năm nữa (545) bên Tàu cho sai:

Dương Phiêu sang nước ta ngay.

Để làm Thứ Sử, nhân đây họ đà.

 

Sai Trần Bá Tiên đánh ta.

Bá Tiên theo lệnh, kéo qua thân hành.

Nước ta non trẻ đã đành

Nam Đế thua trận, mất thành Long Biên

 

Về Gia Ninh, địch đánh liền.

Thành Gia Ninh mất, về miền Tân Xương

Bá Tiên, tiến đánh  Tân Xương.

Nam Đế đánh lại, tìm đường lui binh.

 

Về Khuất Liêu, ngài mộ binh.

Nửa năm sau đó,  xuất chinh phục thù.

Laị thua! Nam Đế, xếp thu

Giao Triệu Quang Phục chống thù thay ông.

 

Anh hùng mạt lộ cam lòng.

Về Khuất Liêu động chờ mong tháng ngày !

 

Triệu Quang Phục.

Email In PDF.

Triệu Quang Phục.

 

 

Triệu Quang Phục, tướng lược tài.

Từng theo Nam Đế bao ngày chiến chinh !

Quân thần một dạ trung trinh.

Binh quyền nay giữ, tướng binh khiển điều.

 

Thấy bọn giặc Lương quá nhiều.

Quang Phục không đánh mà điều quân đi.

Dụng mưu chế thắng xuất kì.

Rút về Dạ  Trạch, tính suy lâu dài.

 

Dạ Trạch là chổ đồng lầy.

Giữa có đất trống, rừng vây um tùm.

Nơi này Quang Phục luyện quân.

Đêm về xuất kích đánh Trần Bá Tiên.

 

Bá Tiên lùng sục khắp miền.

Đánh mãi không được, ngày đêm cuống cuồng.

Người đời khi đó gọi luôn.

Quang Phục là Dạ Trạch Vương đất này.

 

Riêng về  Nam Đế, nhớ ngay

Mậu Thìn (548,) năm ấy  xuôi tay từ trần

Quang Phục theo nguyện ba quân.

Năm sau ông hội quân thần, xưng vương.

 

Quang Phục chọn hiệu Việt Vương.

Bấy giờ quân Việt vương lương cạn dần.

May là Tàu loạn quân thần.

Nhà Lương triệu gấp tướng Trần Bá Tiên.

 

Để Dương Sàn giữ Long Biên.

Việt Vương nắm thế, lệnh liền xuất quân.

Đánh quân Lương chạy tháo thân.

Long Biên thu lại, Vạn Xuân thanh bình.

 

Chín năm sau, sự lại sinh.

Do Lý phật Tử xua binh giành quyền.

Chổ này thưa có căn nguyên !

Khi thua. Nam Đế, về miền Khuất Liêu.

 

Anh em vua, họ cũng điều.

Một phần quân tướng, liều về Cửu Chân.

Anh Nam Đế, nh tên rằng :

Là Lý Thiên Bảo, xong cần nhắc ngay.

 

Em họ Nam Đế, người này :

Là Lý Phật Tử. Cả hai tức thì.

Chạy đến Cửu Chân một khi.

Quân Lương lại đánh tức thì Cửu Chân.

 

Thiên Bảo, Phật Tử điều quân.

Sang phía Tây, chạy nhanh chân sang Lào

Đến động Dã  Năng ở Lào.

Lý Thiên Bảo tự xưng Đào Lang Vương.

 

Lập nước Dã Năng một phương.

Được mười năm Đào Lang Vương qua đời.

Do không con cái nối ngôi.

Phật Tử kế. Xong. Về đòi Vạn Xuân.

 

Đánh Việt Vương mãi bất phân.

Phật Tử hỏi đất chia phân giảng hòa.

Việt Vương đồng ý hiếu hòa.

 Gã con, mong kết thông gia lâu dài.

 

Phật Tử hòa hiếu mặt ngoài.

Trong thì chuẩn bị, chờ ngày ra tay.

Đến năm Tân Mão (57), hại thay !

Thình lình Phật Tử đánh ngay bất thần.

 

Việt Vương thành mất, thân vong.

Ông liều mình chết, cửa dòng Đại Nha.

Nhớ ơn ông giúp nước nhà.

Thờ ông gần cửa Đại Nha còn đền.

 

Phật Tử chiếm thành Long Biên.

Ông ta giao Lý Đại Quyền trông coi.

Thành Ô Diên, Phổ Đỉnh coi.

Phật Tử sau đó lên ngôi, tức là :

 

Hậu Nam Đế ở nước ta.

Dời đô sang đất mới  là Phong Châu.

Bây giờ quay lại nước Tàu.

Khi Bá Tiên rút, bên Tàu rối ren.

 

Bá Tiên ra sức dẹp yên.

Xong phế Lương đế, nắm quyền phía Nam.

Lên ngôi Trần nửa giang sang.

Nhà Tùy sau đó bình toàn Trung Hoa.

 

Tùy sai Lưu Phương đánh ta.

Phật Tử không chống mà ra đầu hàng.

Đúng năm Nhâm Tuất( 602) vừa sang.

Vạn Xuân mất nước, bẻ bàng xót xa !

 

Lúc này Tùy trị nước ta.

Bên Tàu, Đường nổi can qua tiếm quyền.

Năm Mậu Dần (618), lại đổi thêm.

Đường phế Tùy,  nắm luôn quyền Giao Châu !

 

Đến năm Kỷ Mão (621), quan Tàu:

Khâu Hòa sang đất Giao Châu giữ quyền.

Năm này Giao Châu đổi tên

Đường đặt An Nam Đô Hộ Phủ riêng lúc này.

 

Tên An Nam có từ đây.

Triều Đường Cao Tông, lúc này đặt tên.

An Nam, Đường lấy chia riêng.

Mười hai châu mới, phân riêng rõ ràng :

 

Vũ Nga, Phúc Lộc, Vũ An.

Phong, Hoan, Chi, Lục, Ái, Thang, Diễn, Tường.

Giao Châu đủ, tiện nói  luôn.

Có 59 huyện, dưới  Hương, Xã… nhiều !

 

Thời Đường dân khổ đứng điêu.

Đường trị nghiệt nhất các triều Trung Hoa.

 

Mai Thúc Loan

Email In PDF.

 

Mai Thúc Loan

Đúng năm Nhâm Tuất (722), bên ta.

Mai Thúc Loan khởi binh ra đánh Đường.

Lê dân thấy quá thảm thương.

Trong Đường tàn ngược, nhiễu nhương giặc ngoài.

 

Ông mộ nghĩa dũng anh tài.

Hoan Châu đoạt chiếm, cho xây thành trì !

Người ông mặt mũi đen sì.

Quê ở Hà Tĩnh, phương phi tướng người.

 

Thế nên, khi đã lên ngôi.

Tục gọi Hắc Đế, vì người ông đen.

Vua Đường biết chuyện, không yên.

Sai Dương Tư Húc phải liền đem quân.

 

Cùng Quang Sở Khách nhập chung.

Hoan Châu, chúng nhắm kéo quân đùng đùng.

Hắc Đế, chỉ có một vùng.

Quân lương dẫu ít, anh hùng một tay.

 

Thi gan đánh, rõ anh tài.

Sau đánh không lại, rút ngay vào rừng.

Ít lâu, ông bệnh lâm chung.

Đền thờ ông, nay thuộc vùng Vệ Sơn.

 

Giặc Bể

Email In PDF.

Giặc Bể
 

Tới năm Đinh Vị (767), đời Đường.

Ta bị giặc Bể cướp lương, giết người.

Cơn Lôn, lũ ấy  ngoài khơi.

Đồ Bà cũng vậy, phải  người Mã Lai ?

 

Nhằm dân, chúng giết thẳng tay.

Lúc này  ta dưới ách cai nhà  Đường

Bá Nghi tên gọi họ Trương

Ông là quan lại nhà Đường bên ta

 

Xua quân đánh lũ ác tà

Nhưng không đánh nổi thế là cầu ngay

Cao Chính Bình  được tin này.

Đem quân chi viện, cả hai tức thì

 

Giáp công dẹp giặc Bể đi

Sau khi giặc Bể đã bình thì ông

Trương Bá Nghi cho khởi công

Xây La Thành để đề phòng chúng vô

 

Phùng Hưng.

Email In PDF.

Phùng Hưng.

Phùng Hưng sau dựng cơ đồ.

Ít lâu khởi nghĩa đánh đô hộ Bình.

Nguyên do, thưa rõ sự tình.

Là do thuế, Cao Chính Bình đặt ra.

 

Quá cao, làm khổ dân ta.

Từ Đường Lâm, Phùng Hưng đà dấy binh

Đúng năm Tân Tị (791), đinh ninh.

Đô hộ phủ Cao Chính Bình bị vây.

 

Chính Bình lo sợ đêm ngày.

Kinh tà bộc phát, xuôi tay từ trần.

Phùng Hưng tiến đánh tốc thần.

Chiếm phủ đô hộ khoảng xuân năm này.

 

Phùng Hưng lên cũng không dài.

Ít lâu sau lại không may từ trần.

Sinh thời hào hiệp thương dân.

Sau khi ông mất xa gần tiếc thương.

 

Dân tôn : Bố Cái Đại Vương.

Tức là cha mẹ, quê hương ông là.

Đường Lâm nước Việt Nam ta.

Ngày nay vùng đất ấy là Hà Tây.

Phùng Hưng mất, con lên thay.

Tức Phùng An, con không tài hơn cha !

Chổ này xin nói rõ là:

Vua Đường sai Triệu Xương qua lúc này.

 

Giao chức Đô Hộ, về tay

Phùng An khi đó buông ngay, ra hàng.

 

Giặc Hoàn Vương.

Email In PDF.

 

Giặc Hoàn Vương.

An Nam thời ấy không an.

Trong ta khởi đánh, cướp tràn biên cương.

Phía Nam có nước Hoàn Vương.

Chiêm Thành là họ, cứ thường kéo sang.

 

Đất nước này, điểm đôi hàng !

Từ thời thượng cổ, họ mang hiệu là :

Hồ Tôn, sau đó đổi ra :

Lâm Ấp, kẻ đổi, tên là Khu Liên.

 

Sau Chư Cát Địa đổi liền.

Hoàn Vương  là quốc hiệu riêng lúc này.

Hoàn Vương  phá ta dài dài

Họ đưa quân đánh  tháng ngày phía nam.

 

Khoảng năm Quí Mùi (803) bước sang.

Họ chiếm Châu Ái, Châu Hoan một thời.

Năm Mậu Tí (808) lại đổi dời.

Bên Tàu, Đường thấy mọi nơi khá bình.

 

Họ sai Trương Chu soạn binh.

Đánh Hoàn Vương, quyết định bình phía nam.

Nước này bị phá tan hoang.

Họ về Quãng Ngãi, Quãng Nam bấy giờ.

 

Quốc hiệu theo đó đổi dời.

Chiêm Thành từ đó, mấy lời điểm qua !

 

Giặc Nam Chiếu

Email In PDF.

 

Giặc Nam Chiếu

Ngoài  Chiêm thành quấy nhiễu ra.

Bọn giặc Nam Chiếu, kéo qua nhiều lần.

Chúng cách An Nam khá gần.

Phía nam Trung Quốc, nay phần Vân Nam.

 

Được thế là chúng kéo sang.

Đánh An nam gây tóc tang kinh hoàng.

Nhà Đường thường đưa binh sang.

Trấn áp chúng, nhưng gặp ngàn khó khăn.

 

Khoảng năm Quí Mùi (863), nhớ rằng.

Năm vạn Nam Chiếu đằng đằng kéo sang.

La Thành chúng phá vỡ tan.

Giết luôn Thái Tập là quan nhà Đường.

 

Nước ta phải cảnh tan thương.

Mười lăm vạn chết, khôn lường đớn đau !

Rồi cũng khoảng hai năm sau(865).

Nhà Đường khi đó cử mau Cao Biền.

 

Đánh Nam Chiếu cả năm liền.

Sau hạ được chúng Cao Biền xin thay :

Tên An Nam. Đường đổi ngay :

Là Tĩnh Hải. Rồi sửa xây La Thành.

 

Chổ này thưa cố nhớ rành.

Giao Châu lúc trước đổi thành An Nam.

Cao Biền xin đổi An Nam.

Sang là Tĩnh Hải, vài hàng lướt thêm !

 

Chức quan đô hộ, đổi tên:

Là Tiết Độ Sứ, nhớ thêm từ này.

Nhà Đường khi đó phong ngay.

Chức Tiết Độ Sứ cho tay Cao Biền.

 

Cao Biền sau về Tứ Xuyên.

Cao Tầm: cháu họ Cao Biền, lên thay.

Bên Tàu nhớ vào lúc này.

Nhà Đường suy, cát cứ đầy khắp nơi.

 

Khúc Thừa Dụ

Email In PDF.

 

Khúc Thừa Dụ

 

Nước ta được thế đổi dời.

Quyết tâm tự chủ cõi trời nam phương

Khúc Thừa Dụ lại dọn đường.

Ông là hào phú luôn thương yêu người.

 

                                               Tính khoan hòa, tiếng khắp nơi.

Hồng Châu nguyên quán, nay thời Hải Dương.

Nhớ năm Đinh Mão (907,) quan Đường.

Là Độc Cô Tổn hết phương tham tàn.

 

Quyền tiết độ sứ An Nam.

Nhưng bất lực bị bãi quan rút về.

Nhân dân ta lại nhất tề.

Cùng Khúc Thừa Dụ tiến về Thành La.

 

Thêm lần khởi nghĩa nổ ra.

Bọn quan cai trị đều ra đầu hàng.

Nước ta trước ngưỡng sang trang.

Khúc Thừa Dụ đoạt giang sang, nắm quyền.

 

Lúc này nhà Đường suy thêm.

Vua Đường biết chuyện thuận liền cho ông.

Chức Tiết Độ Sứ, lại phong:

Đồng Bình Chương Sự, những mong cố quyền !

 

Nhưng năm sau, Đường sụp liền.

Nhà Hậu Lương lại nắm quyền Bắc Phương.

Lương phong chức Nam Bình Vương.

Cho Lưu Ẩn, giao quản luôn hai vùng :

 

Quảng Châu, Tĩnh Hải gộp chung.

Nhưng Khúc Thừa Dụ không tùng nhà Lương.

Nước ta, ông quyết  giữ luôn.

Không cho Lưu Ẩn bén đường bước qua.

 

Cũng  năm Đinh Mão ( 907) vừa qua.

Khúc Thừa Dụ mất, Khúc Hạo đà thay.

Khúc Hạo khi đó một tay

Lập thêm châu, phủ… Sửa xây khắp vùng.

 

Rồi cho con qua Phiên Ngung.

Tiếng là kết nghĩa, nhưng lùng thực hư.

Bên phiên Ngung, lúc bấy chừ.

Lưu Ẩn giữ, năm thứ tư qua đời.

 

Lưu Cung lên, thế đổi dời.

Người này cát cứ đất trời Quảng Châu.

Xưng vương sau đó ít lâu.

Lập nước Đại Việt lúc đầu. Sau thay :

 

Là Nam Hán, nhớ chổ này !

Giờ quay trở lại bên đây nước nhà.

Tới năm Đinh Sửu (917) bước qua.

Khúc Hạo mất, truyền con đà lên thay.

 

Khúc Thừa Mỹ

Email In PDF.

 

Khúc Thừa Mỹ


 

Tức Khúc Thừa Mỹ, người này.

Đang ở Nam Hán, giờ quay về nhà.

Thừa Mỹ nối nghiệp thay cha.

Nhưng nhận Tiết Độ Sứ nhà hậu Lương !

 

 

Vua Nam Hán biết, hiềm luôn.

Chực đánh Thừa Mỹ, binh lương sẵn sàng.

Quí Mùi ( 923) năm ấy vừa sang.

Quân gia Nam Hán đánh sang ầm ầm.

 

 

ớng Lý Khắc Chính đốc quân.

Hạ được Thừa Mỹ, sai quân bắt về.

Nước ta chúng cũng cướp về.

Giao bọn Lý Tiến, liệu bề tính toan.

 

 

 

Nghiệp họ Khúc dẫu không còn

Nhưng tinh thần ấy dấu son để đời.

 

XIN MỜI XEM TIẾP TRANG 4

 
Trang 3 của 4
BẠN ĐANG XEM TRANG CHỦ THỜI KỲ BẮC THUỘC